Đền thờ Pô Klong Mơh Nai được xây dựng trên một ngọn đồi cao thuộc thôn Lương Bình, thị trấn Lương Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Đền là nơi thờ vua Pô Klong Mơ Nai một trong những vị vua cuối cùng của Vương quốc Chăm Pa.
Dưới tiền triều Pô Ehklang, Pô Klong Mơh Nai được ban tước hiệu Maha Taha (महा तह). Ông đăng cơ vào năm 1622 và tại vị đến năm 1627 thì băng hà, ông nhường ngôi cho con rể của mình. Tương truyền, Pô Klong Mơh Nai không có con trai nên đã truyền ngôi cho một mục phu người Churu được ông yêu quý, lại gả con gái cho, đấy là Pô Rome.

xây dựng hệ thống thủy lợi, nhất là xây dựng các con đập thủy lợi.
Theo huyền tích và sử ký Panduranga, Pô Klong Mơh Nai có hai người vợ: Một là hoàng hậu Pô Bia Sơm (người Chăm) và người còn lại là thứ phi Nguyễn Thị Ngọc Thương (người Việt). Bà Ngọc Thương là ái nữ của chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên.
Mặc dù tại vị trong khoảng thời gian rất ngắn, nhưng Pô Klong Mơh Nai để lại cho hậu thế cụm lăng vào hạng đẹp nhất Chăm Pa (nay là Đền thờ Pô Klong Mơh Nai) tại thôn Lương Bình, thị trấn Lương Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Nhưng trải qua chiến tranh bị xuống cấp trầm trọng nên đã được hậu duệ trùng tu lại. Ngoài ra, còn khá nhiều bảo vật bằng vàng của hoàng tộc Pô Klong Mơh Nai được chính các hậu duệ của ông gìn giữ nghiêm cẩn ở Bình Thuận. Họ cũng giữ được khá nguyên vẹn công thư giao thiệp giữa hai triều đình Panduranga và chúa Nguyễn.

Ngôi đền thờ Pô Klong Mơh Nai gồm 4 gian, cửa các phòng đều quay về phía Đông và hướng Bắc. Gian chính của đền gồm 3 tầng, thu nhỏ lại ở phần đỉnh. Trên đỉnh gắn 4 con Makara (con thú trong thần thoại người Chăm) tượng trưng cho uy quyền của nhà vua.

Trung tâm đền thờ đặt tượng vua Pô Klong Mơh Nai, tạc bằng một khối đá xanh lớn có trang trí hoa văn cầu kỳ đặc sắc, đây là một trong những bức tượng lớn nhất của người Chăm còn lại nguyên vẹn cho đến ngày nay.

Nối tiếp với đền chính có hai ngôi đền thờ phụ thông cửa qua đền thờ chính, thờ bà hoàng hậu người Chăm, những quan lại có công trong triều đình và bà thứ phi người Việt.

Đền thờ phía Bắc, thờ tượng bà hoàng hậu Chăm Pô Bia Sơm, vợ cả của vua Pô Klong Mơh Nai. Trong đền còn thờ 2 tượng kút trang trí đẹp mắt tượng trưng cho việc thờ con trai và con gái nhà vua. Gian phòng phía Nam thờ tượng bà thứ phi Nguyễn Thị Ngọc Thương người Việt.

Hằng năm vào dịp Tết Katê, người Chăm xã Phan Thanh (Bắc Bình) đều tổ chức cúng tế đền thờ Pô Klong Mơh Nai với nhiều nghi thức trang trọng. Đầu tiên, người ta làm lễ rước bằng, sắc phong và trang phục của vua đến đền. Đoàn rước gồm một kiệu mang bằng và sắc phong, theo sau kiệu này là những cô gái Chăm uyển chuyển trong những điệu múa truyền thống gọi là múa Rôk-ôn (múa mừng bằng, sắc). Sau khi làm lễ cúng bên ngoài phạm vi đền, người chủ lễ xin được mở cửa đền. Khi cửa đền được mở, bằng, sắc phong được đặt vào nơi trang nghiêm. Tiếp theo là lễ rước nước tắm các tượng thờ. Nước được dùng là loại nước đặc biệt. Người Chăm thường sử dụng ba loại nước: yakcoe (nước chanh), ya shlầu (nước trầm hương), yamu (một loại nước thiêng theo tín ngưỡng của người Chăm). Đây là nghi thức hết sức quan trọng, theo quan niệm của người Chăm. Sau khi các tượng được tắm xong, người ta mặc trang phục cho các tượng trong đền và bắt đầu buổi tế lễ với đầy đủ những nghi thức của hoàng tộc.

Tuy là ngôi đền thờ vua Klong Mơh Nai nhưng trong đền chỉ thờ tượng vua, còn những di vật hoàng tộc thời vua Klong Mơh Nai thì được lưu giữ tại nhà bà Nguyễn Thị Đào (thôn Tịnh Mỹ – xã Phan Thanh – Bắc Bình) cách đền 15km về phía Bắc. Trước đây, bộ sưu tập này được người Raglai ở Phan Sơn (Bắc Bình) gìn giữ, khi có lễ cúng tế, người Chăm ở Phan Thanh cử một đoàn người lên tận Phan Sơn để nhận vật phẩm rồi mới làm lễ rước về đền (trong lịch sử người Chăm và người Raglai có mối quan hệ mật thiết gắn bó).

Với những kiến trúc độc đáo và di vật còn gìn giữ được cho đến ngày nay, đền thờ Pô Klong Mơh Nai đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào ngày 13/7/1993.








