Thánh Mẫu Thiên Y A Na, bà mẹ xứ sở hay còn được gọi là bà chúa Ngọc, người Chăm tôn sùng thành kính gọi tên Nữ thần Poh Nagar (hay Pô Ino Nogar).
Tục thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na khá phổ biến ở nam miền trung Việt Nam, đó là kết quả của quá trình dung hội, tiếp biến văn hóa Việt – Chăm và cũng chính từ truyền thống tốt đẹp của người Việt ta về thờ phụng người mẹ mà Thánh Mẫu Thiên Y A Na đã được dung hội cùng phối thờ trong hệ thống thần linh tứ phủ.
Giới thiệu về Thánh Mẫu Thiên Y A Na
Thánh Mẫu Thiên Y A Na (Chữ Hán: 天依阿那) hay Thiên Hậu Thánh Mẫu, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Hồng, Bà Chúa Tiên người Chăm gọi là Poh Yang Ina Nagar (Bà Chúa Nước), là một vị thần được cư dân Việt và Chăm thờ phụng, đã được nhà Nguyễn xếp vào bậc thượng đẳng thần.
Đối với các cư dân miền duyên hải nam trung bộ nước ta, Thánh Mẫu Thiên Y A Na là một vị thần chủ “Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên” trong Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam Phủ ở Miền Trung nói riêng. Thánh Mẫu Thiên Y A Na âm phù dương trợ cho con dân Việt Nam từ xưa đến nay qua nhiều thời kỳ chống giặc ngoại xâm, bày dân trồng lúa, trồng cây đắp phúc, thương yêu với nhau, sống tốt đời đẹp đạo,… tuy chỉ là một vị thần theo truyền thuyết, nhưng đã được cư dân Việt và Chăm thờ phụng rất tôn nghiêm, Mẫu đã được triều đình nhà Nguyễn – Vua Gia Long, xếp vào bậc “Hồng nhân phổ tế linh ứng Thượng đẳng Thần” “Hoằng Huệ Phổ Tế Linh Cảm Diệu Thông Mặc Tưởng Trang Huy Thượng đẳng thần”.

Truyền thuyết kể về Thánh Mẫu Thiên Y a Na
Truyền thuyết của người Việt
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa. Năm ấy, đến độ dưa chín, sáng nào ra ruộng thăm, ông bà cũng thấy dưa bị hái trộm. Lạ một điều, chỉ có một quả dưa lớn nhất đẹp nhất là bị hái, nhưng kẻ trộm không ăn mà cũng chẳng mang đi. Quả dưa còn nằm ở một chỗ trống, nhưng bưng lên đã thấy bị nẫu (quả chín quá hóa nát ra).
Thấy lạ, hai ông bà bèn bàn nhau cất công để ý rình. Rồi một đêm trăng sáng, họ đến nấp vào một bụi cây cạnh ruộng. Gần đến nửa đêm, bỗng đâu có cô gái trạc độ mười ba mười bốn tuổi tự nhiên hiện ra ở giữa ruộng dưa. Cô gái rón rén đi, nhìn ngắm từng quả dưa một, rồi sau đó, hình như đã chọn được quả ưng ý nhất thì cúi xuống hái lên. Cô ngắm đi ngắm lại mãi, rồi tìm ra một chỗ trống, tung quả dưa từ tay bên này sang tay bên kia, và cứ như thế, một lúc lâu, sau lại ôm lấy quả dưa mà ngắm nghía mãi không biết chán, …
Đúng lúc ấy, từ chỗ nấp, hai ông bà chạy ùa cả ra, nắm ngay lấy tay cô gái. Còn cô gái, tuy không chạy trốn kịp nhưng cũng chẳng tỏ ra có chút gì sợ hãi. Cô trả cho họ quả dưa, khi được hỏi thì cô lễ phép trả lời:
Cô là con nhà nghèo không có cha mẹ, nhà cô ở cách đây rất xa và cô cũng chẳng nhớ được quê mình ở đâu nữa, …
Thấy cô gái dễ thương, lại nghĩ mình không có con cái, nên ông bà bàn nhau nhận cô về làm con nuôi, rồi cả hai cùng nói với cô gái, … Còn cô gái, thấy cử chỉ, lời lẽ của hai ông bà đều chân thành thì cô im lặng lắng nghe và suy nghĩ, rồi sau đó nhận lời.
Cô theo họ về nhà. Sáng hôm sau, hai ông bà sửa lễ gia tiên, rồi hai bên chính thức nhận nhau là bố mẹ và con cái. Từ đấy trong ngôi nhà của họ, không khí vui vẻ đầm ấm hẳn lên. Hai ông bà hết lòng yêu thương chăm sóc cô, còn cô thì cũng rất mực yêu thương kính trọng bố mẹ.
Một hôm trời đổ cơn mưa lớn, nước lũ ở thượng nguồn tràn về mênh mang, khiến mọi người đều ở trong nhà không ai đi làm được cả. Bố mẹ cô, lẽ dĩ nhiên là rất lo lắng, mong sao cho nước mau cạn để cây cối khỏi bị chết úng, thì cô, do tính tình còn trẻ dại, lại thích nô đùa. Rồi cô xuống bên mé nước cậy đá lên, xếp chúng thành một hòn núi giả, lại đi tìm những cành lá gẫy cắm vào xung quanh, để chơi, …
Thấy vậy, ông bà bực quá, nghĩ rằng con cái chẳng hiểu được lòng bố mẹ, bèn lên tiếng trách cứ rồi la mắng. Nào ngờ, cô gái thấy tủi thân quá, bèn lủi ra đầu hồi nhà, đứng khóc một mình. Một lúc lâu sau, nhân lúc bố mẹ không ai để ý, cô lại lén ra khỏi nhà, rồi men theo những dải đất cao, đi ra phía bờ biển. Cũng lúc ấy, dập dềnh bên mé nước có một cây gỗ kỳ nam, không biết trôi từ đâu đến. Cô gái còn khóc hồi nữa, rồi nhìn quanh nhìn quẩn, thấy mình hoàn toàn lẻ loi, cô đơn, cô bèn nhảy luôn lên cây gỗ, và một điều kỳ lạ xảy ra: Cô gái đã nhập thân vào cây gỗ. Cây gỗ dập dềnh ở đấy một lúc nữa, như có điều gì còn ghi nhớ và lưu luyến, rồi sau đó, theo sóng biển, trôi mãi lên phương Bắc, …
Ông bà bố mẹ nuôi cô gái đang bận việc chẻ củi và may vá trong nhà, tưởng con khóc rồi chơi ở ngoài đầu hồi, nên cũng không để ý. Đến mãi sau, khi lên tiếng gọi thì chẳng thấy con đâu! Hai ông bà bèn nháo nhào đi tìm nhưng khắp chốn cùng nơi, cũng vẫn tuyệt âm vô tín. Nước lụt mênh mang như thế, lại đang cuộn chảy mãi ra biển, họ cho là con gái xảy chân đã trôi ra biển mất rồi. Thế là ông bà gào thét, khóc than thảm thiết, sau đó làm lễ cúng chay cho con, và từ đấy trở đi, sống âm thầm, rầu rĩ cho đến cuối đời, …
Còn cây gỗ kỳ nam, sau một hồi dập dềnh rồi trôi lên phương Bắc, và cứ thế trôi mãi… trôi mãi… Đến khi sóng lặng gió yên thì đã trôi được cả ngàn dặm đường và dạt vào bờ, …
Một buổi sáng nọ, dân địa phương ra bờ biển, vô cùng ngạc nhiên thấy có cây gỗ lạ rất đẹp trôi từ đâu đến. Họ bảo nhau mang thừng chão ra buộc vào rồi cùng kéo lên bờ, nhưng hàng trăm người xúm vào mà cây vẫn không nhúc nhích. Họ bèn đóng cọc ghim lại để tìm kế sách khác, và cũng từ đấy, dường như ngay tức khắc, tiếng đồn về cây gỗ kỳ lạ đã lan ra khắp cả vùng.
Hoàng tử ở phương Bắc bấy giờ vào tuổi kén vợ, đang đi chu du khắp chốn cùng nơi để tìm cho ra một người ưng ý. Khi đến vùng này, nghe chuyện cây gỗ kỳ lạ, chàng cũng tò mò tìm đến. Thấy cây gỗ đẹp thì có đẹp nhưng cũng không lớn lắm mà sao cả trăm người kéo không được thì chàng lấy làm lạ lắm. Cũng vẫn là tò mò, chàng xắn tay áo lên, bảo mọi người cho mình kéo thử một cái xem sao.
Chiều ý Hoàng tử, mọi người lui cả rạ Nhưng thật vô cùng bất ngờ, khi hoàng tử vừa cầm thừng co tay lại thì cây gỗ cũng lập tức chuyển động, rồi dần dần, theo sức kéo mà tiến vào bờ. Đến khi chạm đất, Hoàng tử kéo mạnh một cái nữa thì cây hoàn toàn đã nằm trên bãi biển.
Mọi người vô cùng phấn khởi, vỗ tay reo hò không ngớt. Xong xuôi, sau khi hỏi ý kiến dân làng, Hoàng tử cho quân lính đem cây gỗ về Kinh đô.
Về phía dân làng, tuy cũng có người còn tiếc rẻ, nhưng đa phần cho rằng, đưa cây gỗ về kinh là hợp lý hơn cả vì như vậy tất cả bàn dân thiên hạ sẽ đều được chiêm ngưỡng. Còn về phía Hoàng tử thì cũng chẳng có vui mừng nào hơn, chàng cho là có duyên cớ, bèn không tiếp tục đi tìm vợ nữa, mà cùng quân lính trở về kinh, cùng với cây gỗ.
Khỏi phải nói, khi về đến Kinh đô thì mọi người, mọi nơi nghe tiếng, nao nức tìm đến xem đông như thế nào. Nhưng rồi sự kiện ấy cũng mau chóng qua đi bởi lẽ mọi người nhìn mãi rồi cũng chán, vì cây đẹp thì có đẹp nhưng chẳng thấy có biểu hiện gì là lạ lùng cả. Mà dân chúng cần là cần sự lạ lùng, xưa nay chưa từng có, chứ không phải là một cái cây đẹp.
Chỉ riêng có Hoàng tử, do chính tay mình đã chứng kiến và thực hiện được một điều kỳ diệu, nên còn giữ mãi trong lòng sự vui mừng và niềm mong đợị Khi mọi người đã xem chán xem chê, đến mức không còn ai thiết xem nữa, thì Hoàng tử mới sai quân lính đem cây về trước Đông cung để hàng ngày được nhìn ngắm và gần gũi với cây.
Cây quả là đã có tình ý với Hoàng tử thật. Từ đó trở đi, mỗi đêm trăng sáng, Hoàng tử bỗng thấy trong thân gỗ bước ra một người con gái xinh đẹp tuyệt trần, và cùng lúc, là mùi hương thơm ngào ngạt tỏa ra theo mỗi bước chân của nàng.
Mê mẩn trước người đẹp, Hoàng tử vội vàng chạy tới, nhưng lần nào cũng vậy, hễ cứ giáp mặt, là người con gái lại biến ngay vào trong thân gỗ.
Sau vài lần như thế, Hoàng tử đã nghĩ ra được một cách, cũng khá đơn giản chứ chẳng có gì ghê gớm lắm. Chàng cho mấy người lính hầu đứng nấp ở xung quanh, còn tự mình cũng nấp ở gần đấỵ Khi cô gái vừa xuất hiện thì Hoàng tử đã bước ra nắm chặt lấy tay nàng, và mấy người lính cũng lập tức khiêng cây gỗ đem dấu biến đị Hoàng tử bảo cô gái hãy vui lòng vì chàng mà ở lạị Cô gái e lệ cúi đầu. Thế rồi, ngay lúc đó chàng dẫn nàng đến trình với đức vua cha và hoàng hậu, kể lại hết đầu đuôi ngọn ngành, và xin cha mẹ hãy tác thành cho họ.
Nhà vua lắng nghe, rồi nói: “Được. Để xem”, xong cho gọi thị nữ đưa nàng về phòng riêng, còn Hoàng tử thì trở về Đông cung.
Sáng hôm sau thiết triều, nhà vua cho triệu quan Thái bốc lại để bói xem điều lành điều gở thế nào. Sau khi nghe tấu trình là quẻ đại phúc, nhà vua cả mừng rồi ngay sau đó, cho cử đại lễ để hoàng tử sánh duyên cùng cô gái.
Tưởng rằng cuộc tình duyên ấy sẽ mặn nồng mãi mãi đến lúc đầu bạc răng long. Nào ngờ Hoàng tử cũng là kẻ bạc tình, chỉ chung thủy được có mấy năm đầụ Khi vợ đã có con thì chàng ta đâm ra hay chơi bời chứ chẳng quan tâm được như trước. Nay rượu, mai cờ bạc, rồi đi dong duổi khắp nơi, không chú ý gì đến việc dạy dỗ con cái. Nàng đã nhiều lần khuyên can nhưng chàng vẫn chứng nào tật ấy, làm nàng rất chán nản. Vì vậy, ở trong hoàng cung, sống giữa nhung lụa, kẻ hầu người hạ không thiếu, mà nàng cảm thấy bơ vơ, rồi buồn tủi xót xa, chỉ muốn tìm cách bỏ đi, không chút luyến tiếc. Bởi vì con người ta vốn là vậy, nên dẫu là thần thánh, thì khi tình yêu đã hết, tất cả sẽ chỉ là vô nghĩa.
Thế rồi một hôm, nhân khi Hoàng tử bỏ đi chơi lâu ngày, nàng tìm thấy cây kỳ nam mà khi trước bọn lính đã đem dấu biệt. Nàng gọi hai con đến rồi đọc một câu thần chú, thế là cả ba mẹ con cùng nhập vào cây kỳ nam. Cây kỳ nam tự chuyển động rời khỏi hoàng cung rồi lăn xuống sông. Từ sông, kỳ nam xuôi dòng nước trôi ra biển. Biển lúc ấy bỗng nhiên nổi luồng gió trái. Và theo chiều gió, cây kỳ nam trôi mãi, trôi mãi… Cuối cùng trở lại biển phương Nam.
Đến đúng trước cù lao Huân thì gió lặng và cây kỳ nam dừng lại. Cây trôi vào sát mép nước. Từ thân cây, cả ba mẹ con bỗng chốc hiện ra, bước lên bờ, rồi trở về nhà cũ. Cả hai ông bà cha mẹ nuôi lúc ấy đều đã mất. Nhà vắng vẻ tiêu điều. Ba mẹ con bắt tay ngay vào việc dọn dẹp sửa sang cửa nhà, lập bàn thờ cha mẹ, ông bà tổ tiên, rồi cùng làm ăn sinh sống với dân làng. Từ đấy trở đi, quê hương, vùng cù lao Huân mỗi ngày một thêm ấm no, trù phú. Thế rồi đến một hôm, giữa lúc trời quang mây tạnh, trước sự chứng kiến và ngạc nhiên của mọi người, cả ba mẹ con cùng bay vút lên trời…
Ở phương Bắc, Hoàng tử đi chơi về thấy vợ con mất tích. Tìm cây kỳ nam ngày trước thì cũng chẳng thấy đâu. Chàng hối hận vô cùng, lòng tự nhủ lòng sẽ tìm ra bằng được ba mẹ con, dẫu có phải đi xuống tận địa ngục.
Khi xưa, lúc ở bờ biển chàng có nghe dân chúng nói cây gỗ này trôi từ biển phương Nam lại Thế là Hoàng tử vào từ biệt vua cha và hoàng hậu, rồi cùng một số gia nhân, binh lính và thủy thủ xuống thuyền, dong buồm vượt biển hướng về phương Nam.
Khi thuyền vừa đúng đến cửa Đại An thì bỗng đâu một trận cuồng phong dữ dội nổi lên. Thuyền đắm, cả Hoàng tử cùng gia nhân thủy thủ đều chìm sâu xuống đáy nước. Nhưng khi cơn bão tan thì tự nhiên biển ở chỗ ấy cũng nổi lên một mô đá nhỏ, vượt cao khỏi mặt nước. Trên mặt mô đá có những hình thù ngoằn ngoèo tựa như những hàng chữ nổi. Từ bao đời nay, đã có nhiều người hay chữ và kiến thức uyên bác đi thuyền tới đó, nhưng chưa ai đọc được đấy là những chữ gì. Và có lẽ như thế nên có thể cho rằng, những điều bí mật của thiên cơ, chắc còn lâu người ở dưới trần gian mới có thể hiểu thấu được hết.
Ba mẹ con nàng tiên đã về trời, nhưng từ đó đến nay vẫn thường hiển linh ở các nơi gần xa quanh vùng cửa Đại An, vùng cù lao Huân, cù lao Yến. Vì vậy dân đi biển, đi đánh cá, đi tìm tổ yến vẫn thường bày lễ vật, thắp hương rồi hướng mặt lên trời cao cầu xin sự che chở, phù hộ độ trì của nàng tiên, mà từ đó trở đi được kính cẩn tôn xưng là bà chúa Ngọc.
Bà chúa Ngọc còn được gọi là bà chúa tiên hay Thánh mẫu Thiên Y A Na, theo cách gọi của người Chăm Pa, một dân tộc đã định cư lâu dài ở vùng đất này. Từ Huế đến Nha Trang ở đâu cũng có điện thờ bà chúa Ngọc. Triều Nguyễn có sắc thượng phong cho bà là “Hồng Nhân phổ tế linh ứng Thượng đẳng thần”.
Truyền thuyết của người Chăm
Theo truyền thuyết của người Chăm Pa, Nữ thần Poh Nagar do bọt nước biển và ánh mây trời sinh ra ngoài biển khơi. Một hôm, nước biển dâng cao đưa Bà vào bến sông Yjatran ở Kauthara (Cù Huân). Sấm trời và gió hương liền nổi dậy báo cho muôn loài biết tin bà giáng thế. Tức thì, nước trên nguồn dồn lại thành sông chảy xuống đón mừng bà, và núi cũng hạ mình thấp xuống để đón rước Bà.
Khi Bà bước lên bờ, thì cây cong xuống để tỏ lòng thần phục, chim muông kéo đến chầu hai bên đường, và hoa cỏ cũng xinh tươi rực rỡ hơn để điểm hương cho mỗi bước chân Bà đi. Rồi nữ thần Poh Nagar dùng phép hóa ra cung điện nguy nga, hóa ra trầm hương cùng lúa bắp, …
Nhiều phép thuật, Bà cũng rất nhiều chồng. Nơi hậu cung của Bà, có đến 97 ông. Nhưng trong số đó, chỉ ông Pô Yan Amo là có uy quyền hơn cả. Sống với ngần ấy ông chồng, nhưng Bà chỉ sinh được 38 người con gái. Những người con ấy, sau đều thành thần, trong số có ba người được bà truyền nhiều quyền phép:
- Nữ thần Xứ Trầm hương: Pô Nagar Galâu.
- Nữ thần vùng Phan Rang: Pô Tdara Nai Anaith.
- Nữ thần vùng Phan Thiết: Pô Bia Tikuk.
- Sự tích Nữ thần Poh Nagar và sự tích Bà Thiên Y A NA thật khác hẳn nhau.
- Sụ tích Nữ thần Poh Nagar của người Chiêm Thành phản ánh chế độ mẫu hệ của người Chăm ngày trước.
Đền Thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na

Nhiều đợt khảo sát trong cộng đồng người Việt ở Bình Thuận cho thấy, các địa điểm xây đền thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na có ở nhiều địa phương như:
- Đền thờ Thiên Ya Na ở xã Phan Rí Thành huyện Bắc Bình.
- Đền thờ Thiên Ya Na ở xã Phú Lạc huyện Tuy Phong.
- Đền thờ Bà Chúa Ngọc làng Thương Hải.
- Đền thờ Bà Chúa Ngọc làng Hải Châu xã Ngũ Phụng.
- Đền thờ Thiên Ya Na ở đảo Hòn Bà phường Bình Tân thị xã La Gi.
- Miếu Cây Da xã Long Hải huyện Phú Quý.
Tuy có niên đại khác nhau nhưng các đền thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na của người Việt xây dựng ở Bình Thuận đều có lối kiến trúc dân gian cổ kính và nội dung thờ phụng gần giống nhau. Ngoài ra, Thánh Mẫu Thiên Y A Na còn được thờ phụng tại một số đình làng, lăng vạn ở Bình Thuận và đặt ngai vị thờ ngang hàng với thành hoàng của làng, điều đó cho thấy sự ngưỡng mộ và tôn vinh bà ở nhiều địa phương trong tỉnh.

Hòn Bà là một hòn đảo nhỏ nằm ngoài biển khơi, cách bờ khoảng 2km, thuộc phường Bình Tân, thị xã La Gi, khoảng từ thế kỷ XVII trở về trước, người Chăm xây dựng đền thờ và thờ phụng Thánh Mẫu Thiên Y A Na hàng năm ở đảo.
Sau khi người Chăm di chuyển làng xóm đến nơi khác và không còn thờ phụng nữa, người Việt ở khu vực này đã kịp thời tiếp quản và tu bổ tôn tạo lại đền thờ, tiếp tục thờ phụng Thiên Ya Na theo phong cách của dân tộc mình từ hàng trăm năm nay.
Cùng với thắng cảnh Hòn Bà là những truyền thuyết mang đầy tính tâm linh huyền thoại về Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Sự linh hiển cũng như đức tính nhân hậu của vị Thánh Mẫu được thờ ở đây thông qua thần tích của người Chăm đã khiến cho người Việt dễ dàng tiếp thu tín ngưỡng này vào trong đời sống tâm linh tín ngưỡng và văn hóa của mình.
Do vậy việc thờ phụng Thánh Mẫu Thiên Y A Na liên tục được thực hiện ở đây, dù cho bom đạn của chiến tranh có lúc làm cho đền thờ sụp đổ hoàn toàn, sau đó người dân lại góp công của tu bổ tôn tạo lại.
Các đền thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na ở Bình Thuận có những ngày vía bà khác nhau, riêng đền thờ Thiên Y A Na ở đảo Hòn Bà phường Bình Tân thị xã La Gi lại có ngày vía bà trùng khớp ngày vía nữ thần Thiên Y A Na ở tháp Bà Ponagar (được tổ chức từ ngày 21 đến 23/3 âm lịch hàng năm).

Từ hàng chục năm nay, việc tu bổ, tôn tạo và thờ cúng cũng như thực hiện các lễ nghi, lễ hội ở Hòn Bà của người dân được thực hiện một cách tự phát mà ít có sự quan tâm của chính quyền địa phương, nên các hạng mục kiến trúc ở đây khá lộn xộn giữa cũ và mới. Thậm chí từ việc chỉ thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na trên đảo với duy nhất một đền thờ bà, người ta đã tự ý dựng lên đỉnh Hòn Bà một tượng Phật bà Quan Âm, bên cạnh đền thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na.
Cũng vì không có nguồn kinh phí nào đáng kể, chủ yếu là sự đóng góp của du khách và nhân dân địa phương nhưng rất ít ỏi, do phương tiện chở người ra đảo không đủ chuẩn, nên Đồn biên phòng ở đây không cho dân và du khách ra đảo, dù rất gần bờ. Lý do là cũng vào ngày vía bà 23/3 âm lịch năm 1986 xảy ra một vụ lật ghe, do mắc cạn nên ghe nghiêng một bên làm chết mấy chục người tại cửa biển. Do vậy từ đó đến nay rất hạn chế cho bà con ra đảo, kể cả với du khách.

Cho đến mấy năm gần đây, những khi có việc ra đảo Hòn Bà, dù đã có công lệnh nhưng chúng tôi đều phải lập danh sách báo với Đồn biên phòng mới được đi. Làm việc với các cụ già quản lý đền thờ trên đảo, các cụ mong làm sao chính quyền địa phương sớm cho bà con và du khách tự do ra đảo để họ viếng Bà và thỏa mãn về tâm linh tín ngưỡng, …
Trao đổi vấn đề này với một số lãnh đạo ở địa phương, được biết lý do của Đồn biên phòng là không có ghe đủ chuẩn để chở nhân dân và du khách ra đảo, bất kể mùa nào trong năm. Thật tiếc là vào mùa này biển êm như nước trong hồ, đảo lại rất gần, nhưng hàng trăm du khách các nơi đến dự lễ vía Bà năm nay đều không được ra đảo, chỉ ở trong bờ nhìn ra, kể cả một số người Chăm từ các nơi đến phải quay về. Nghe người dân ở đây nói, doanh nghiệp Ba Thật ở thị xã La Gi đang có ý tưởng đóng một chiếc ghe lớn đủ chuẩn để đưa bà con và du khách ra đảo viếng Bà và tham quan Hòn Bà trong một vài năm tới.

Chúng tôi nghe tin rất mừng, dù sự thật còn rất xa, khi đó có thể kết nối với tuyến du lịch lễ hội vía Bà ở tháp Bà Ponagar Nha Trang để chia sẻ bớt lượng khách ở đó vào trong này, khi cùng là ngày vía Bà 23/3 âm lịch. Dịp lễ vía nữ thần Thiên Ya Na năm nay ở tháp Bà Ponagar thu hút khoảng hơn 60.000 lượt khách hành hương (có rất nhiều người Chăm ở Bình Thuận dự lễ ở đây) thì ở Hòn Bà chỉ có khoảng vài trăm du khách và người dân may mắn mới dự được lễ vía Bà.
Thiết nghĩ, nếu tình hình này kéo dài như mấy chục năm qua, vẫn cấm cửa du khách không cho ra đảo, đền thờ vẫn lạnh lẽo đìu hiu thì Hòn Bà với một thắng cảnh đẹp như thế, rất lãng phí. Dù biết sự đời là thế, cái gì quản không nổi thì cấm là chắc nhất.








